Bản văn Thủy Quốc Động Đình Thánh Thủy

Trong bài viết này, xin gửi tới bạn đọc bản văn Thủy Quốc Động Đình Thánh Thủy Văn được sưu tầm trong cuốn sách : “Văn chầu: Các bài văn chầu đủ các vị” do biên soạn năm 1929 từ Thư viện Quốc gia Việt Nam thuộc bộ sưu tập sách Đông Dương.
***
Trịnh Nam-biên doành khuyên lai-láng,
Nguyệt lầu-lầu sai rạng Nam-minh ;
Vốn xưa Thủy-quốc Động-đình,
Có Tiên Thánh-nữ giáng sinh đền Rồng.
Đức gồm vẹn công dung ngôn hạnh,
Nết nhu-mì vốn tính thiên-nhiên ;
Dung-nhan khác giá Thần-Tiên,
Đã đành lệ-thủy chơi miền non côn.
Hằng chầu-chực kim-môn ngọc-điện,
Duyên sắt cầm chưa định nơi nao ;
Chúa từ thời tiết thanh tao,
Gió Đằng-vương-các thư trao dưới màn.
Dưới Thủy-quan có nhà lệnh tộc,
Vốn con dòng danh-ốc Kinh-Xuyên ;
Vốn xưa vây cánh nhà truyền,
Thao-mai nàng ấy tạm quyền tiểu-tinh.
Chí bình sinh phù đời giúp nước,
Ơn Cửu-trùng phó thác bên giang ;
Mảng danh Công-chúa phi-phương,
May nhờ lá thắm kết vương tơ hồng.
Trên Vương-phụ có lòng lân-mẫn,
Cho đôi người duyên phận sánh nhau ;
Chúa từ kết ngãi Trần Châu,
Đã đành núi thẳm vực sâu khôn nài.
Kết duyên hài trăm năm phối thất,
Đạo cương thường nhiệm-nhặt tóc-tơ ;
Cùng nhau chưa mấy nắng mưa,
Bỗng đâu ra sự thiên cơ quải người.
Trách Thao-Mai ra lòng giáo-giở,
Giả đầu thư làm cớ gieo oan.
Kinh-Xuyên chẳng xét ngay gian,
Giá vàng nỡ để lầm than bao đành.
Trên dương-thế một mình vò-võ,
Sớm khuya cùng núi cỏ ngàn cây ;
Đèn trăng chiếu đá màn mây,
Dưỡng thân hoa cỏ, bạn bày trúc mai.
Thường vãng lai thanh-sơn tú-thủy,
Lốt đại-xà tượng thể ngư long ;
Có khi biến tướng lạ-lùng,
Mày ngài yểu-điệu má hồng phi-phương.
Có phen nhớ gia-nương dòi-dọi,
Mặt rầu-rầu dạ rối châu sa ;
Có khi nương bóng hằng-nga,
Tưởng bề phu phụ xót-xa muôn phần.
Có phen trách lòng quân bội bạc,
Nghe ai làm chếch-mác duyên ai !
Có phen liễu ủ đào phai,
Phận đành nước chẩy hoa trôi lỡ-làng.
Có phen tưởng giày sương giãi nguyệt,
Bảo thân phàm mong quyết về không ;
Có phen giãi nắng non sông,
Tưởng về nhiều nỗi hình dong võ-vàng.
Bốn bề những hổ lang ác-thú,
Vật đều cùng mến Chúa hôm mai.
Đua nhau trăm giống ngàn loài.
Dâng hoa cúng quả chẳng nài công-phu.
Vẹn mười thu giãi-giàu sương nắng.
Tin cá chìm nhạn vắng khôn hay ;
Tấc niềm nhiều nỗi riêng tây,
Ai ngờ con Tạo vẫn xoay cớ trời.
Trên dương-thế có người nho-sĩ,
Văn tú-tài Liễu-Nghị là tên ;
Trẻ thơ nhờ ấm xuân huyên,
Sôi kinh nấu sử hằng chuyên việc mình.
Thời gặp thuở Thần-kinh hội-thí,
Dậm đường trường Liễu-nghị bước ra ;
Vũ-môn mong nhảy đợt ba,
Ai ngờ con Tạo xui ra quải người.
Bây giờ đã tới nơi non quạnh,
Ác ban tà sương lạnh trời hôm ;
Bốn bề hoa cỏ xanh um,
Trước ngàn liễu rủ, sau chòm đào phai.
Lòng quân-tử đeo-đai cảnh-vật,
Thấy Chúa ngồi tư-cách dung-nhan ;
Má hồng châu lệ chứa chan,
Nỉ-non hòa nói hòa than một mình.
Chàng trông thấy tâm tình cảm cách,
Chúa ngập-ngừng nhủ khách rằng cây :
« Sơn lâm rừng vắng chốn này,
« Cớ sao quân-tử tới đây lạc loài ?
« Ngày hồ đã trăng soi cá lặn,
« Chàng hãy còn thơ thẩn cớ sao ? »
Thưa rằng : « Hàn-sĩ chí cao,
« Mười năm đèn sách công lao chuyên cần ;
« Hội khoa xuân hiềm chưa gặp-gỡ,
« Tưởng duyên này cắc cớ vì đâu ;
« Dám xin kết ngãi trần châu,
« Kẻo lòng quân-tử gieo cầu dưới trăng ».
Chúa nghe nói dùng-dằng khôn siết,
Đoái nhủ chàng : « Cả quyết sao nên ?
« Ta nay người dưới Thủy-tiên,
« Nghiêm từ sớm định kết duyên dai-kỳ.
« Khăng khăng giữ đạo tùy sau trước,
« Chẳng ngờ chàng tính nước lòng mây ;
« Bỗng không bốc lửa bỏ tay,
« Gieo oan một phút bắt đầy mười đông.
« Cạy quân-tử tin thông họa nả,
« Sự duyên này dám há đơn sai ».
Chàng rằng : « Nguyện được như lời,
« Đã đành bể rộng sông dài quản đâu ».
Nhờ đèn nguyệt đêm thâu bóng thỏ,
Giãi tấc lòng núi cỏ non xanh ;
Hàn-lâm nghe mảng tiếng kềnh,
Kim-ô bóng đã lộ hình ra đâu.
Chúa hiềm nỗi bấy lâu oan ức,
Phó kim thoa một bức thư phong.
VẬY CÓ THƯ RẰNG : Nữ-tiên thủ bút, con bái lạy vua quan : Thân nữ-nhi phận gái hồng-nhan ; đã sinh cửa quyền-môn quý-tộc. Tam niên dưỡng dục ; phụ tử tình thâm. Khi cả khôn duyên bén sắt cầm ; khăng khăng giữ tòng phu cho phải đạo. Trách bà Nguyệt-lão ; khéo quải duyên ai ! Vì tiểu tinh tà cái Thao-Mai ; đầu thư giả làm ra oan trái. Trách chàng cả dạ ; nghe đứa tà gian. Bảo cho con nết ở đa đoan, đem đầy chốn rừng xanh núi cỏ. Một mình vò-võ ; nào có ai hay. Ngày gió đưa bạn với cỏ cây ; đêm trăng bạc biết cùng ai năn-nỉ. Bỗng đâu nho-sĩ ; bước đến thẩn thơ. Nguyệt tà-tà thẫn-thẫn thờ-thờ ; nghĩ nông nỗi dừng chân lỡ bước. Trước sau sau trước, mượn bút thay lời. Chiếc thoa tin với bức thư này ; dẫu nghìn dậm công lênh đừng có tiếc. Vu oan một tiếng ; vắng-vẻ mười đông. Sự xoay vần đã có Thiên-công ; thư một bức đôi vừng nhật nguyệt. Sự tình con xin kể thủy chung.
Nhủ chàng ra mái bể Đông,
Tới đâu là bóng ngô-đồng cây cao ;
Lấy kim thoa gõ vào cây ấy,
Dưới Thủy-tề nghe thấy chẳng lâu ;
Phòng khi ứng hiện nhiệm mầu,
Hẹn chàng thưa gửi gót đầu đinh-ninh.
Chàng quân-tử tâm tình sau trước,
Dạ ngùi ngùi chân bước đường thông ;
Bể nào lai-láng xa trông,
Nửa lo nỗi Chúa, nửa mòng sự duyên.
Sông Vân-hán băng miền Thủy-phủ,
Tới ngô-đồng tay gõ một thôi ;
Tự nhiên nổi trận phong-lôi,
Giữa giòng nước chảy có đôi bạch-xà.
Chàng trông thấy sự đà ứng hiện,
Mới hay lời Chúa phán phân minh ;
Bạch-xà thoắt xuống Động-đình,
Bách quan rẽ nước giàng xanh rước chàng.
Rước chàng xuống đền vàng Thủy-phủ,
Thấy triều thần văn võ đôi bên ;
Tiêu thiều nhạc tấu dưới trên,
Tả biên ngư mục, hữu biên bạch-xà.
Kim-quy-sứ vào tòa ngọc-bệ,
Mới phán đòi Liễu-Nghị vào trong ;
Chàng bèn dâng bức thư phong,
Phụ-vương trông thấy trong lòng quặn đau.
Trách Kính-Xuyên cơ cầu độc dữ,
Mới đòi chàng Hoàng-tử Xích-Lân ;
Phán rằng : « Chúa phải gian-truân,
« Con vua rước xuống Thủy-cung chớ chày ».
Lời Vương-phụ phán ngay lập tức,
Sai các quan hết sức thần-thông ;
Chiêng kêu, cờ phất, trống rung,
Khắp hòa thế-giới đều cùng mênh-mông,
Bốn phương trời mưa rong chớp giật,
Quỷ cùng tờ giéo-giắt mọi nơi ;
Rước Chúa về tới long-ngai,
Tội Kính-Xuyên với Thao-Mai luận đầy,
Công cán này ai bằng Liễu-Nghị,
Sắc phong làm Quốc-tế Thuy-quan ;
Chàng từ bái lệnh Thiên-nhan,
Duyên ưa phận đẹp sắc ban trọng quyền.
Duyên thiên công bày yên thuở trước,
Người phàm-trần lại được bén tiên ;
Chàng từ kim cải kết duyên,
Có cơ trí-tuệ, có quyền anh-linh.
Dầu ai phải bệnh cùng khí huyết,
Lập đàn lên chầu hát lại tha,
Dầu ai dâng tiến hương hoa,
Tiền tài lưu-loát, cửa nhà khang ninh.
Dầu ai dốc lòng thành phụng bái,
Phúc đến nhiều lộc lại đề-đa ;
Toàn gia con cháu vinh-hoa,
Mãn đường phú quý trẻ già bình an.
Chữ rằng : Thánh giáng lưu ân !
Thần giáng lưu phúc, thiên xuân thọ trường !
vua cha thủy quốc động đình
Đức  vua cha Bát Hải còn được gọi là Vua Cha Bát Hải Động Đình, là vị vua đứng đầu Thủy phủ, hành dinh của Ngài ở Động Đình Hồ một vùng đất ven biển Đông của nước ta, chứ không phải Đầm Vân Mộng (cũng có tên Động Đình Hồ) ở bên Trung Quốc. Theo truyền thuyết lưu truyền thì ngài là cha của Thánh mẫu Xích Lân Long Nữ, là nhạc phụ của Kinh Dương Vương (Kinh Xuyên), thủy tổ của Bách Việt.
>>> Truy cập kênh Phủ Dầy Nam Định Official và nhấn Subscriber để theo dõi các video về Phủ Dầy Nam Định

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.